Tìm kiếm

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI

CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI
Tin Mừng Gioan chương 20:1-18
 
 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."

Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà.

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.

Thiên thần hỏi bà: "Này bà, sao bà khóc? " Bà thưa: "Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu! " Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. Đức Giê-su nói với bà: "Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai? " Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói: "Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về." Đức Giê-su gọi bà: "Ma-ri-a! " Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri: "Ráp-bu-ni! ", nghĩa là "Lạy Thầy".

Đức Giê-su bảo: "Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em"." Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ: "Tôi đã thấy Chúa", và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.

CHÚA GIÊSU HIỆN RA VỚI CÁC MÔN ĐỆ

CHÚA GIÊSU HIỆN RA VỚI CÁC MÔN ĐỆ
Tin Mừng Gioan chương 20:19-29
Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su hiện đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! " Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."

Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin."

Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! " Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin! " 

CHÚA GIÊSU ĐI VỚI CÁC MÔN ĐỆ TRÊN ĐƯỜNG EMAU VÀ VỀ TRỜI

CHÚA GIÊSU ĐI VỚI CÁC MÔN ĐỆ TRÊN ĐƯỜNG EMAU VÀ VỀ TRỜI
Tin Mừng Mátthêu chương 24
 Có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Đức Giê-su hỏi: "Chuyện gì vậy? " Họ thưa: "Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy."

Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn." Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao? "

Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: "Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn." Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

Rồi Người bảo: "Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm." Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh46 và Người nói: "Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này. "Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa (là ban Thánh Thần). Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống."

Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.

KÍNH THÁNH GIOAN BAOTIXITA BỊ CHÉM ĐẦU

Ngày 29 tháng 8: Kính Thánh Gioan Baotixita bị chém đầu
Thánh Gioan Baotixita, được Chúa Thánh Thần soi sáng, rút lui sống trong sa mạc để được dễ dàng gìn giữ thiện tâm và phát huy những đặc ân mà Thiên Chúa đã ban cho. Ngài đến sống trong sa mạc ăn chay hãm mình đền tội, cầu nguyện và suy niệm cho đến năm 30 tuổi. Lúc đúng tuổi ba mươi, ngài xuất hiện trước dân chúng và rao giảng, kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và làm phép rửa vì vậy nên ngài còn được gọi là Gioan Tẩy Giả.

Chính Đấng Cứu Thế cũng đến chịu phép rửa và Gioan đã làm chứng, đây chính thật là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.. Sau đó thì cuỗc đời của Đấng Tiền Hô đã mãn, và máu của ngài đã đổ ra để làm chứng cho sứ vụ thiêng liêng của mình. Hêrôdê, vua xứ Galilê, đã lấy chị dâu của mình là Herodiade nên thánh Gioan đã lên án nặng nề sự loạn luân cuồng loạn này nhiều lần, nên Herodiade tìm mọi cách để trả th

Nhà đạo đức can trường đã bị Hêrôdê bắt giam tù hơn ba tháng nhưng cũng chưa thỏa mãn được lòng người đàn bà gian ác và dâm loạn Herôdiade. Một ngày kia, Hêrôdê thết đãi mọi quần thần trong triều đình một buổi tiệc mừng sinh nhật. Trong tiệc mừng, Salomê, con gái của Herôdiade, nhảy múa tuyệt hảo trước nhà vua và quần thần. Trong cơn say Herôdê thê hứa là sẽ ban cho Salômê điều gí mà Salômê xin dù là nữa vương quốc của ông ta.

Cô gái vội vã chạy về kể lại với mẹ lời hứa của nhà vua: “Con phải xin gì với nhà vua? Nàng hỏi Herôdiade. Người đàn bà nhỏ nhen đầy hận thù nói: “Con hãy xin nhà vua cái đầu của Gioan Baotixita. Salômê trở lại nói với Herôdê sự lực chọn của nàng. Tuy Hêrôdê là người hư hỏng như không quá hung ác, cảm thấy hối hận về lời hứa, nhưng không thể để bị mất mặt trước quần thần nên đã ra lệnh cho đao phủ đi chặt đầu của Thánh Gioan mà giao cho Salômê. Đầu của thánh Gioan được mang đến cho Salômê trong một cái chậu sau đó nàng mang về cho mẹ nàng, Herodiade. Khi tin dữ này được loan báo cho Chúa Giêsu, dù Chúa đã biết mọi sự đang xẩy ra nhưng Chúa đã tỏ ra rất đau buồn.

Tội ác không thể tránh khỏi được án phạt. Hêrôdê đã bị quân thù hãm hại, ông bị mất tất cả vương quyền và chết một cách tủi nhục. Cuộc đời của Herodiade và cô con gái cuối cùng cũng bị thất sủng sống trong buồn nãn, nghèo nàn và nhục nhã.

THÁNH NỮ MONICA

Ngày 27 tháng 8: Kính Thánh Monica
Thánh Monica là người Phi châu, sinh vào khoảng năm 332 tại Carthage. Bà kết hôn với một người ngoại đạo có chức phận nhưng tánh tình nóng nảy thô bạo và ham chơi bời. Nhờ vào đức tin Công giáo và sự nhẫn nại, bà đã cải hóa được người chồng và đem ông trở lại đạo Công giáo. Bà có được ba người con. Người con cả là Augustin, một người thông minh tài hoa nhưng đã làm cho bà đau buồn và khóc lóc rất nhiều

Tánh tình phóng khoáng và hư đốn của Augustin lúc tuổi thanh xuân làm bà đau khổ và chua xót với những năm tháng dài đằng đẵng. Augustin công khai ăn ở với người bạn gái, theo đòi lối ăn chơi và tư tưởng vô luân của thời đại bỏ ngoài tai những lời khuyên nhủ, năn nỉ của người mẹ hiền.

Bền chí trong lời cầu nguyện, Monica đã có được niềm vui tràn đầy và hạnh phúc chan chứa khi người con hoang đàng trở về nhận lãnh Bí tích rửa tội. Từ đây nếp sống và tư tưởng của vị thánh tương lai Augustin ở Hippo trở thành rường cột cho Giáo Hội Công giáo.

Khi Augustin rời Phi Châu đến định cư tại Milan thì bà Monica đã quyết định đi theo với con dù Augustin đã trốn đi không lời từ biệt. Lúc bây giờ trong thành Milan có một Giám mục nổi tiếng là thánh Ambroise, ngài đã cảm hóa được Augustin. Vị Giám mục thánh thiện này đã an ủi bà Monica: “Tôi khuyên bà cứ yên tâm, một người mẹ đã chảy quá nhiều nước mắt cho một đứa con như bà thì làm sao nó có thể hư mất được!.” Sau khi được rửa tội Augustin lại trở vế Phi châu cùng với mẹ.

Đến hải cảng Ostia, gần Roma thì bà Monica đau nặng. Lúc sắp lìa đời bà trăn trối với Augustin là bà không còn lý thú gì để sống ở đời nữa: “ Mẹ chỉ có một mục đích, một mục đích duy nhất mà thôi là tại sao mẹ muốn sống lâu thêm ở đời này. Mẹ muốn nhìn thấy con trở thành một người Công giáo khi mẹ rời khỏi cuộc đời này. Chúa đã ban cho mẹ lời ước nguyện đó.! Như vậy mẹ còn sống ở đời này làm gì nữa!”Nói xong thánh Monica từ gỉa cuộc đời. Bà được chôn cất tại đây. Đến thế kỷ XV thì hài cốt của bà được dời về tôn kính trong thánh đường Saint Augustin ở Roma.

HÀI NHI GIÊSU SINH RA

JESUS IS BORN
Luke chapter 2,1-20
In those days a decree went out from Caesar Augustus that the whole world should be enrolled. This was the first enrollment, when Quirinius was governor of Syria. So all went to be enrolled, each to his own town.
 
HÀI NHI GIÊSU SINH RA
Tin Mừng Thánh Luca chương 2,1-20
Thời hoàng đế Âu-gút-tô, vua ra lệnh cho mọi người phải làm sổ kiểm tra dân số. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri. Ai nấy đều phải trở về quê quán để khai tên tuổi.
And Joseph too went up from Galilee from the town of Nazareth to Judea, to the city of David that is called Bethlehem, because he was of the house and family of David, to be enrolled with Mary, his betrothed, who was with child.
 
Ông Giu-se từ thành Na-da-rét trở về Bê-lem, miền Giu-đê, vì ông thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai.
While they were there, the time came for her to have her child, and she gave birth to her firstborn son. She wrapped him in swaddling clothes and laid him in a manger, because there was no room for them in the inn.
 
Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày sinh nở. Hai ông bà đi tìm chỗ trọ nhưng không có chỗ. Hai ông bà liền tìm một lều nơi chăn giữ chiên bò. Bà Maria sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ nơi hang bò lừa.
Now there were shepherds in that region living in the fields and keeping the night watch over their flock. The angel of the Lord appeared to them and the glory of the Lord shone around them, and they were struck with great fear.
 
Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng thiên thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.
The angel said to them, "Do not be afraid; for behold, I proclaim to you good news of great joy that will be for all the people. For today in the city of David a savior has been born for you who is Messiah and Lord. And this will be a sign for you: you will find an infant wrapped in swaddling clothes and lying in a manger."
 
Nhưng thiên thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin vui lớn lao, cũng là tin vui cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Chúa Ki-tô. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."
And suddenly there was a multitude of the heavenly host with the angel, praising God and saying: "Glory to God in the highest and on earth peace to those on whom his favor rests."
 
Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với các thiên thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
"
When the angels went away from them to heaven, the shepherds said to one another, "Let us go, then, to Bethlehem to see this thing that has taken place, which the Lord has made known to us." So they went in haste and found Mary and Joseph, and the infant lying in the manger.
 
Khi các thiên thần từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết." Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
When they saw this, they made known the message that had been told them about this child. All who heard it were amazed by what had been told them by the shepherds. And Mary kept all these things, reflecting on them in her heart. Then the shepherds returned, glorifying and praising God for all they had heard and seen, just as it had been told to them.
 
Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ những kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. Sau đó, các mục đồng ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.